Những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 - Phần 2

Đăng lúc: Thứ ba - 22/01/2019 20:15 - Người đăng bài viết: luatducphuong
Bộ luật dân sự 2015

Bộ luật dân sự 2015

ộ luật Dân sự là đạo luật rất quan trọng của mỗi quốc gia, có tác động trong việc điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản của xã hội, mỗi công dân, các gia đình, cơ quan, tổ chức. Bộ luật Dân sự 2015 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015 với nhiều chế định mới, tiến bộ, thể hiện một cách đầy đủ nhất với tính chất là luật chung và định hướng cho việc xây dựng các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự đặc thù, xử lý bất cập của luật hiện hành, giải quyết được những vướng mắc trong thực tiễn cuộc sống. Bộ luật Dân sự 2015 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2017.
37. Lần đầu tiên, quy định điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ - Căn cứ Điều 50 Bộ luật Dân sự 2015
 
Trước đây, BLDS 2005 quy định chỉ có cá nhân mới được phép làm người giám hộ, BLDS 2015 mở rộng việc giám hộ không chỉ là cá nhân mà còn là pháp nhân.
 
Pháp nhân có đủ các điều kiện sau có thể làm người giám hộ:
 
- Có NLPL dân sự phù hợp với việc giám hộ.
 
- Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
 
38. Giám sát việc giám hộ - Căn cứ Điều 51 Bộ luật Dân sự 2015
 
- Cử người giám sát việc giám hộ không còn là trách nhiệm của người thân thích của người được giám hộ mà việc này được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận:
 
Người thân thích của người được giám hộ thỏa thuận cử người giám sát việc giám hộ trong số những người thân thích hoặc chọn cá nhân, pháp nhân khác làm người giám sát việc giám hộ.
 
(Thay thế cụm từ “có trách nhiệm” thành cụm từ “thỏa thuận”)
 
- Bổ sung thêm một số nội dung sau:
 
Việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ phải được sự đồng ý của người đó.
 
Trường hợp giám sát việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của người được giám hộ thì người giám sát phải đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ.
 
- Thành phần người thân thích của người được giám hộ không thay đổi so với trước, tuy nhiên làm rõ từ “bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột” thay vì sử dụng từ “bác, chú, cậu, cô, dì” như BLDS 2005.
 
- Nêu rõ cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ:
 
Trường hợp có tranh chấp về việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ thì Tòa án quyết định.
 
- Quy định cụ thể về người giám sát việc giám hộ và quyền, nghĩa vụ của người này.
 
Người giám sát việc giám hộ phải là người có NLHVDS đầy đủ nếu là cá nhân, có NLPL dân sự phù hợp với việc giám sát nếu là pháp nhân; có điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám sát.
 
Người giám sát việc giám hộ có quyền và nghĩa vụ sau:
 
+ Theo dõi, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ.
 
+ Xem xét, có ý kiến kịp thời bằng văn bản về việc xác lập, thực hiện GDDS quy định về quản lý tài sản của người được giám hộ.
 
+ Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giám hộ xem xét thay đổi hoặc chấm dứt việc giám hộ, giám sát việc giám hộ.
 
39. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên - Căn cứ Điều 52 Bộ luật Dân sự 2015
 
Về cơ bản, không thay đổi bản chất nội dung, tuy nhiên, bổ sung một số từ ngữ làm rõ nghĩa:
 
Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên gồm người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất NLHVDS; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế NLHVDS; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ được xác định theo thứ tự sau:
 
- Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.
 
- Trường hợp không có người giám hộ nêu trên thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.
 
- Trường hợp không có người giám hộ nêu trên thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.
 
40. Cử, chỉ định người giám hộ - Căn cứ Điều 54 Bộ luật Dân sự 2015
 
- Trường hợp người chưa thành niên, người mất NLHVDS không có người giám hộ đương nhiên theo quy định đã nêu trên thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.
 
(Cụm từ người giám hộ ở đây là bao hàm cả cá nhân và pháp nhân, trước đây, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ và hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ)
 
- Nêu hướng xử lý trong trường hợp có xảy ra tranh chấp:
 
Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ đương nhiên về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ.
 
Trường hợp cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ 06 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này.
 
- Trừ trường hợp áp dụng quy định người có NLHVDS đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình theo quy định đã nêu trên, người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ đương nhiên của người mất NLHVDS theo quy định.
 
Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.
 
41. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi - Căn cứ Điều 56 Bộ luật Dân sự 2015
 
Không thay đổi nội dung, bổ sung thêm nội dung sau:
 
- Quản lý tài sản của người được giám hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
 
42. Bổ sung nghĩa vụ của người giám hộ đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi - Căn cứ Điều 57 Bộ luật Dân sự 2015
 
Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các nghĩa vụ sau:
 
- Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ.
 
- Đại diện cho người được giám hộ trong các GDDS.
 
- Quản lý tài sản của người được giám hộ.
 
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
 
43. Quyền của người giám hộ - Căn cứ Điều 58 Bộ luật Dân sự 2015
 
Phân định rạch ròi quyền của người giám hộ của người chưa thành niên, người mất NLHVDS và người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi:
 
- Đối với người giám hộ của người chưa thành niên, người mất NLHVDS có các quyền sau:
 
+ Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ.
 
+ Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ.
 
+ Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện GDDS và thực hiện các quyền khác theo quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
 
- Đối với người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền sau:
 
+ Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ.
 
+ Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ.
 
+ Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện GDDS và thực hiện các quyền khác theo quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
 
44. Quản lý tài sản của người được giám hộ - Căn cứ Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015
 
Phân định quyền quản lý tài sản của người được giám hộ là người chưa thành niên, người mất NLHVDS và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
 
Cụ thể, đối với quản lý tài sản của người được giám hộ là người chưa thành niên, người mất NLHVDS không thay đổi so với quy định quản lý tài sản của người được giám hộ tại BLDS 2005.
 
Đối với quản lý tài sản của người được giám hộ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định như đối với quản lý tài sản của người được giám hộ là người chưa thành niên, người mất NLHVDS.
 
45. Thay đổi người giám hộ - Căn cứ Điều 60 Bộ luật Dân sự 2015
 
Thêm trường hợp được thay đổi người giám hộ:
 
- Người giám hộ là cá nhân bị Tòa án tuyên bố hạn chế NLHVDS, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất NLHVDS.
 
- Thủ tục thay đổi người giám hộ không thực hiện theo BLDS 2015 mà thực hiện theo quy định pháp luật về hộ tịch:
 
Thủ tục thay đổi người giám hộ được thực hiện theo quy định pháp luật về hộ tịch.
 
46. Chuyển giao giám hộ - Căn cứ Điều 61 Bộ luật Dân sự 2015
 
Nội dung của văn bản chuyển giao giám hộ, bổ sung thêm vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ bên cạnh các nội dung đã được quy định tại BLDS 2005.
 
47. Chấm dứt việc giám hộ - Căn cứ Điều 62 Bộ luật Dân sự 2015
 
- Thêm cụm từ “là người chưa thành niên” vào trường hợp chấm dứt việc giám hộ bên cạnh các trường hợp quy định tại BLDS 2005:
 
Cha, mẹ của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
 
- Các thủ tục liên quan đến việc giám hộ thực hiện theo quy định pháp luật về hộ tịch:
 
Thủ tục chấm dứt việc giám hộ thực hiện theo quy định pháp luật về hộ tịch.
 
48. Hậu quả chấm dứt việc giám hộ - Căn cứ Điều 63 Bộ luật Dân sự 2015
 
- Bổ sung các nội dung sau:
 
+ Trường hợp người được giám hộ đã có NLHVDS đầy đủ thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người được giám hộ, chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ GDDS vì lợi ích của người được giám hộ cho người được giám hộ.
 
+ Trường hợp chấm dứt việc giám hộ do cha, mẹ của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, người được giám hộ được nhận làm con nuôi thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản và chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ GDDS vì lợi ích của người được giám hộ cho cha, mẹ của người được giám hộ.
 
+ Việc thanh toán tài sản và chuyển giao quyền, nghĩa vụ quy định được lập thành văn bản với sự giám sát của người giám sát việc giám hộ.
 
- Đồng thời, cụ thể hóa nội dung hậu quả chấm dứt việc giám hộ trong trường hợp người được giám hộ chết:
 
Trường hợp người được giám hộ chết thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người thừa kế hoặc giao tài sản cho người quản lý di sản của người được giám hộ, chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự vì lợi ích của người được giám hộ cho người thừa kế của người được giám hộ.
 
Nếu hết thời hạn đó mà chưa xác định được người thừa kế thì người giám hộ tiếp tục quản lý tài sản của người được giám hộ cho đến khi tài sản được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế và thông báo cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ.
 
49. Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú - Căn cứ Khoản 1 Điều 65 Bộ luật Dân sự 2015
 
Bổ sung cụm từ “có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” vào nội dung sau:
 
Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho người sau đây quản lý:
 
- Đối với tài sản đã được người vắng mặt uỷ quyền quản lý thì người được uỷ quyền tiếp tục quản lý.
 
- Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý.
 
- Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.
 
50. Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú - Căn cứ Khoản 3 Điều 66 Bộ luật Dân sự 2015
 
Bổ sung thêm nghĩa vụ “Thanh toán nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Tòa án.”
 
51. Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú - Căn cứ Khoản 2 Điều 67 Bộ luật Dân sự 2015
 
Bổ sung thêm quyền “Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ thanh toán nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt.”
 
52. Tuyên bố mất tích - Căn cứ Khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015
 
Bổ sung thêm các nội dung sau:
 
- Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình.
 
- Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định pháp luật về hộ tịch.
 
53. Huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất tích - Căn cứ Khoản 4 Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015
 
Ngoài các nội dung quy định tại BLDS 2005, BLDS 2015 bổ sung quy định sau:
 
Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định pháp luật về hộ tịch.
 
54. Tuyên bố chết - Căn cứ Khoản 1, 3 Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015
 
- Kéo dài thời gian tuyên bố một người là đã chết đối với trường hợp bị tai nạn, thảm họa thiên tai:
 
Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (trước đây, quy định thời gian này là 01 năm).
 
- Bổ sung quy định sau:
 
Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định pháp luật về hộ tịch.
 
55. Huỷ bỏ quyết định tuyên bố chết - Căn cứ Khoản 4, 5  Điều 73 Bộ luật Dân sự 2015
 
Ngoài các quy định tại BLDS 2005, BLDS 2015 quy định thêm nội dung sau:
 
- Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được giải quyết theo quy định của BLDS 2015, Luật hôn nhân và gia đình.
 
- Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định pháp luật về hộ tịch.
 
Chương IV: Pháp nhân
 
56. Pháp nhân - Căn cứ Điều 74 và Điều 83 Bộ luật Dân sự 2015
 
Quy định rõ hơn điều kiện của một tổ chức được công nhận là pháp nhân:
 
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau:
 
- Được thành lập theo quy định của BLDS 2015, luật khác có liên quan.
 
- Có cơ cấu tổ chức theo quy định sau:
 
+ Pháp nhân phải có cơ quan điều hành. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.
 
+ Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định pháp luật.
 
- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình.
 
- Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
 
57. Phân loại pháp nhân - Căn cứ Điều 75 và Điều 76 Bộ luật Dân sự 2015
 
Trước đây, BLDS 2005 không phân định rạch ròi giữa pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại, nay BLDS 2015 phân định rõ 02 loại pháp nhân này:
 
- Pháp nhân thương mại:
 
+ Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
 
+ Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
 
+ Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của BLDS 2015, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
 
- Pháp nhân phi thương mại:
 
+ Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.
 
+ Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.
 
+ Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của BLDS 2015, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.
 
58. Điều lệ của pháp nhân - Căn cứ Điều 77 Bộ luật Dân sự 2015
 
Bổ sung một số nội dung sau vào Điều lệ của pháp nhân:
 
- Chi nhánh, văn phòng đại diện, nếu có.
 
- Đại diện theo pháp luật của pháp nhân.
 
- Điều kiện trở thành thành viên hoặc không còn là thành viên của pháp nhân, nếu là pháp nhân có thành viên.
 
- Quyền, nghĩa vụ của các thành viên, nếu là pháp nhân có thành viên.
 
- Thể thức thông qua quyết định của pháp nhân; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ.
 
- Ðiều kiện chuyển đổi hình thức.
 
59. Trụ sở của pháp nhân - Căn cứ Điều 79 Bộ luật Dân sự 2015
 
Bổ sung quy định sau:
 
Trường hợp thay đổi trụ sở thì pháp nhân phải công bố công khai.
 
60. Quốc tịch của pháp nhân - Căn cứ Điều 80 Bộ luật Dân sự 2015
 
Đây là điểm mới đáng chú ý của BLDS 2015.
 
Pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam.
 
61. Tài sản của pháp nhân - Căn cứ Điều 81 Bộ luật Dân sự 2015
 
Đây là điểm mới của BLDS 2015.
 
Tài sản của pháp nhân bao gồm vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên, thành viên của pháp nhân và tài sản khác mà pháp nhân được xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS 2015, luật khác có liên quan.
 
62. Thành lập, đăng ký pháp nhân - Căn cứ Điều 82 Bộ luật Dân sự 2015
 
- Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
 
- Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký khác theo quy định pháp luật.
 
- Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai.
 
Trước đây, BLDS 2005 không quy định rõ vấn đề này.
 
63. Chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân - Căn cứ Điều 84 Bộ luật Dân sự 2015
 
- Nhấn mạnh chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân:
 
Chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân.
 
- Bãi bỏ quy định “văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc”:
 
Văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện trong phạm vi do pháp nhân giao, bảo vệ lợi ích của pháp nhân.
 
- Bổ sung quy định sau:
 
Việc thành lập, chấm dứt chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân phải được đăng ký theo quy định pháp luật và công bố công khai.
 
64. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân - Căn cứ Điều 86 Bộ luật Dân sự 2015
 
- Thêm quy định sau:
 
NLPL dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp BLDS 2015, luật khác có liên quan quy định khác.
 
- Sửa đổi quy định về thời điểm phát sinh NLPL dân sự của pháp nhân: NLPL dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì NLPL dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký.
 
65. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân - Căn cứ Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015
 
- Thêm quy định sau:
 
Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
 
- Thêm điều khoản loại trừ vào các quy định sau:
 
+ Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.
 
+ Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác.
 
66. Hợp nhất pháp nhân - Căn cứ Điều 88 Bộ luật Dân sự 2015
 
Quy định cụ thể thời điểm pháp nhân cũ chấm dứt tồn tại:
 
Sau khi hợp nhất, các pháp nhân cũ chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm pháp nhân mới được thành lập.
 
67. Sáp nhập pháp nhân - Căn cứ Điều 89 Bộ luật Dân sự 2015
 
Không nhất thiết pháp nhân sáp nhân phải cùng loại với pháp nhân được sáp nhập như trước đây:
 
Một pháp nhân có thể được sáp nhập (gọi là pháp nhân được sáp nhập) vào một pháp nhân khác (gọi là pháp nhân sáp nhập).
 
68. Chuyển đổi hình thức của pháp nhân - Căn cứ Điều 92 Bộ luật Dân sự 2015
 
Đây là nội dung mới tại BLDS 2015.
 
- Pháp nhân có thể được chuyển đổi hình thức thành pháp nhân khác.
 
- Sau khi chuyển đổi hình thức, pháp nhân được chuyển đổi chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm pháp nhân chuyển đổi được thành lập; pháp nhân chuyển đổi kế thừa quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được chuyển đổi.
 
69. Giải thể pháp nhân - Căn cứ Điều 93 Bộ luật Dân sự 2015
 
Bổ sung “Trường hợp khác theo quy định pháp luật” vào trường hợp pháp nhân giải thể.
 
70. Thanh toán tài sản của pháp nhân bị giải thể - Căn cứ Điều 94 Bộ luật Dân sự 2015
 
Quy định cụ thể việc thanh toán tài sản của pháp nhân bị giải thể - một quy định mà trước đây tại BLDS 2005 chưa đề cập đến:
 
- Tài sản của pháp nhân bị giải thể được thanh toán theo thứ tự sau:
 
+ Chi phí giải thể pháp nhân.
 
+ Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động theo quy định pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết.
 
+ Nợ thuế và các khoản nợ khác.
 
- Sau khi đã thanh toán hết chi phí giải thể pháp nhân và các khoản nợ, phần còn lại thuộc về chủ sở hữu pháp nhân, các thành viên góp vốn, trừ trường hợp sau hoặc pháp luật có quy định khác:
 
Trường hợp quỹ xã hội, quỹ từ thiện đã thanh toán hết chi phí giải thể và các khoản nợ nêu trên, tài sản còn lại được chuyển giao cho quỹ khác có cùng mục đích hoạt động.
 
Trường hợp không có quỹ khác có cùng mục đích hoạt động nhận tài sản chuyển giao hoặc quỹ bị giải thể do hoạt động vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì tài sản của quỹ bị giải thể thuộc về Nhà nước.
 
71. Phá sản pháp nhân - Căn cứ Điều 95 Bộ luật Dân sự 2015
 
Đây là quy định mới tại BLDS 2015.
 
Việc phá sản pháp nhân được thực hiện theo quy định pháp luật về phá sản.
 
72. Chấm dứt tồn tại pháp nhân - Căn cứ Điều 96 Bộ luật Dân sự 2015
 
- Thêm trường hợp pháp nhân chấm dứt tồn tại:
 
Đó là trường hợp chuyển đổi hình thức theo quy định đã được đề cập trên.
 
- Bổ sung nội dung sau:
 
Khi pháp nhân chấm dứt tồn tại, tài sản của pháp nhân được giải quyết theo quy định của BLDS 2015, quy định khác của pháp luật có liên quan.
 
Chương V: Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương và ở địa phương trong quan hệ dân sự
 
Các nội dung trong chương này là quy định hoàn toàn mới tại BLDS 2015:
 
73. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự - Căn cứ Điều 97, 99, 100 Bộ luật Dân sự 2015
 
Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương khi tham gia quan hệ dân sự thì bình đẳng với các chủ thể khác và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định sau:
 
- Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự:
 
+ Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của mình bằng tài sản mà mình là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, trừ trường hợp tài sản đã được chuyển giao cho pháp nhân theo quy định sau:
 
Pháp nhân do Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương thành lập không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự của Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương.
 
+ Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của pháp nhân do mình thành lập, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, trừ trường hợp Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương bảo lãnh cho nghĩa vụ dân sự của pháp nhân này theo quy định pháp luật.
 
+ Cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước khác ở trung ương, ở địa phương, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
 
- Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự với một bên là nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài:
 
+ Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự do mình xác lập với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài trong trường hợp sau:
 
i. Điều ước quốc tế mà CHXHCNVN là thành viên có quy định về việc từ bỏ quyền miễn trừ.
 
ii. Các bên trong quan hệ dân sự có thỏa thuận từ bỏ quyền miễn trừ.
 
iii. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương từ bỏ quyền miễn trừ.
 
+ Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của nhà nước, cơ quan nhà nước của nước ngoài khi tham gia quan hệ dân sự với Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương, pháp nhân, cá nhân Việt Nam được áp dụng tương tự như vừa nêu trên.
 
74. Đại diện tham gia quan hệ dân sự - Căn cứ Điều 98 Bộ luật Dân sự 2015
 
Việc đại diện cho Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương tham gia quan hệ dân sự được thực hiện theo quy định pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước.
 
Việc đại diện thông qua cá nhân, pháp nhân khác chỉ được thực hiện trong các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
 
Chương VI: Hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự.
 
75. Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân - Căn cứ Điều 101 Bộ luật Dân sự 2015
 
Quy định này cụ thể và chi tiết hơn so với quy định đại diện của hộ gia đình, đại diện của tổ hợp tác tại BLDS 2005:
 
- Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện GDDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện GDDS.
 
Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.
 
Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện.
 
- Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo Luật Đất đai.
 
76. Tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân - Căn cứ Điều 102, 212, 506 Bộ luật Dân sự 2015
 
Quy định việc xác định tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này rõ ràng hơn so với BLDS 2005:
 
- Việc xác định tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định như sau:
 
+ Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS 2015 và luật khác có liên quan.
 
+ Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận.
 
Trường hợp định đoạt tài sản là BĐS, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có NLHVDS đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.
 
Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại BLDS 2015 và luật khác có liên quan, trừ trường hợp đó là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng.
 
- Việc xác định tài sản chung của các thành viên tổ hợp tác, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định như sau:
 
+ Tài sản do các thành viên đóng góp, cùng tạo lập và tài sản khác theo quy định pháp luật là tài sản chung theo phần của các thành viên hợp tác.
 
Trường hợp có thỏa thuận về góp tiền mà thành viên hợp tác chậm thực hiện thì phải có trách nhiệm trả lãi đối với phần tiền chậm trả theo quy định (sẽ được đề cập ở những phần sau) và phải BTTH.
 
+ Việc định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất, nhà, xưởng sản xuất, tư liệu sản xuất khác phải có thỏa thuận bằng văn bản của tất cả các thành viên; việc định đoạt tài sản khác do đại diện của các thành viên quyết định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
 
+ Không được phân chia tài sản chung trước khi chấm dứt hợp đồng hợp tác, trừ trường hợp tất cả các thành viên hợp tác có thỏa thuận.
 
Việc phân chia tài sản chung quy định không làm thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ được xác lập, thực hiện trước thời điểm tài sản được phân chia.
 
- Việc xác định tài sản chung của các thành viên của tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo thỏa thuận của các thành viên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
 
77. Trách nhiệm dân sự của thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân - Căn cứ Điều 103 Bộ luật Dân sự 2015
 
Quy định lại trách nhiệm dân sự của thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác:
 
- Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên.
 
- Trường hợp các thành viên không có hoặc không đủ tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ chung thì người có quyền có thể yêu cầu các thành viên thực hiện nghĩa vụ liên đới theo quy định sau:
 
+ Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.
 
+ Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.
 
+ Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ.
 
+ Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.
 
- Trường hợp các bên không có thỏa thuận, hợp đồng hợp tác hoặc luật không có quy định khác thì các thành viên chịu trách nhiệm dân sự quy định trên theo phần tương ứng với phần đóng góp tài sản của mình, nếu không xác định được theo phần tương ứng thì xác định theo phần bằng nhau.
 
78. Hậu quả pháp lý đối với giao dịch dân sự do thành viên không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập, thực hiện - Căn cứ Điều 104 Bộ luật Dân sự 2015
 
Đây là quy định mới tại BLDS 2015.
 
- Trường hợp thành viên không có quyền đại diện mà xác lập, thực hiện GDDS nhân danh các thành viên khác của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì hậu quả pháp lý của giao dịch được áp dụng theo quy định sau:
 
+ GDDS vô hiệu từng phần.
 
+ Hậu quả của GDDS do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện.
 
+ Hậu quả của GDDS do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện.
 
- GDDS do bên không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập, thực hiện mà gây thiệt hại cho thành viên khác của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người thứ ba thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
 
Kim Yến (Tổng hợp)

Nguồn: Trang tin Ban QL Lăng CT HCM

-------------------------------------------------------------------------------
 
DUC PHUONG LAW luôn cập nhật những quy định mới của pháp luật để bảo vệ tốt nhất cho lợi ích của người sử dụng dịch vụ. 

Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn, giải đáp thắc mắc của bạn.

Trân trọng.



Nguồn tin: DS
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
  • Khách hàng 6
  • Khách hàng 5
  • Khách hàng 4
  • Khách hàng 3
  • Khách hàng 2
  • Khách hàng 1

Giới thiệu

GIỚI THIỆU VỀ DUC PHUONG LAW

 DUC PHUONG LAW là trang thông tin hoạt động dịch vụ Luật sư, Công chứng, Đấu giá tài sản và các dịch vụ pháp lý khác, thương hiệu chung của những chuyên gia trong lĩnh vực hoạt động tố tụng, dịch vụ pháp lý. Là trí tuệ chung của các Luật sư, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Điều tra viên,...

Khám phá





Bộ đếm

  • Đang truy cập: 25
  • Hôm nay: 1927
  • Tháng hiện tại: 79415
  • Tổng lượt truy cập: 4278226